quê hương và niềm nhớ

MÀU TÍM PENSEÉ

Capture3

         Anh gởi em màu tím băng trinh
                Trang tím ngày xưa của riêng mình
                  Bên mái học đường vương hoa nắng
              Trên dòng lưu bút, giấy trắng tinh

         Anh gởi em màu tím ngây thơ
              Hoa tím còn nguyên tuổi dại khờ
                  Đem ép phượng hồng trong tập tím
     Để chú ve sầu như ngẩn ngơ

      Anh gởi em màu tím penseé
          Hò hẹn cùng nhau, quên lối về
     Em nói khi nào thôi yêu tím
 Sẽ đốt đồi sim tím não nề

           Anh gởi em màu tím, hoa sim
       Rừng xưa cây cỏ ngủ im lìm
          Bàn chân nhẹ gót đôi hài tím
         Giờ lá thu tàn theo dấu chim

                                                                      Lương Đức Trung

Chiều quê

Tro lai

                      Chiều chiều ra đứng bờ sông
                      có con nước nhỏ xuôi dòng quạnh hiu
                      đêm về xóm vắng buồn thiu
                      có cây đèn nhỏ hắt hiu tháng ngày

                      êm êm trong bóng đêm dài
                      côn trùng trỗi khúc u hoài nhớ mong
                      sớm mai là ánh nắng hồng
                      bao người trỗi dậy ruộng đồng chăm lo

                       trên mương rộn tiếng hát hò
                       có cô thiếu nữ líu lo đón chào
                       có anh tát nước bờ ao
                       thương nhau chẳng nói mà sao vẫn chờ

                       những đêm trăng sáng mộng mơ
                       quê tôi là một bài thơ tuyệt vời
                       bây giờ xa cách đôi nơi
                       nhớ làm sao đó một thời  đã qua

                                       Song Thùy

Tạ ơn!

IMG_3102   

   Xin được tạ ơn Trời
       khi sớm mai thức dậy
  cho tôi còn hơi thở
     hơi thở ôi, tuyệt vời!

   Xin được tạ ơn Đời
     cho tôi còn niềm vui
          còn được thấy mẹ cười
        rạng ngời trái tim tôi!

        Xin được tạ ơn Người
        quê hương thứ hai ơi!
 xin tạ ơn một thời
       cưu mang và yêu tôi!

 Quê cũ  đã xa rồi
                nước mắt chưa ngừng rơi
  tạ ơn mãi bên trời
  nơi mẹ sinh ra tôi.

   Thủy Trang

Một chuyến đi

IMG_3495

Tôi đi mình ên trong chuyến xe lửa từ Paris sang Thụy Sĩ với tâm trạng nôn nao và thoáng lo âu ngần ngại, mặc dù đây không phải là lần đầu thân gái dặm trường xuyên quốc gia như thế này, cách đây 2 năm tôi cũng từng liều mạng mang balô dong ruổi đi Tây mà chữ nghĩa tiếng Tây không rành nửa câu, không cellphone wifi để liên lạc trong trường hợp khẩn cấp, không có quá 200€ trong túi, chỉ theo lời mời thân tình của một gia đình Tây quen biết sơ giao mà hăm hở đi đại với mục đích duy nhất là thăm thằng con tật nguyền đang sống lưu lạc xứ người. Cái đất nước Thụy Sĩ giàu có bậc nhất thế giới này đã cưu mang nuôi dưỡng đứa con trai èo uột tội nghiệp của tôi từ hơn 30 năm nay. Thật lòng tôi nợ những con người ở đây một lời cám ơn vô hạn.
Xe chạy băng qua những đồi thông , những cánh đồng, những thành phố nhỏ bình yên với nóc nhà thờ thấp thoáng trong sương mù, tự dưng thấy nhớ Đà Lạt mấy mươi năm trước , nơi mà tôi đã đến rón rén với cái ba lô mang ngược, bởi cái giọng con nhỏ em họ rù rì ” chị mà không đi phá thai để bác Năm biết được ổng cạo đầu khô cho coi “. Tại sao phải bỏ đứa nhỏ? có thể ba tôi không chấp nhận “tên lính ngụy” trong gia đình cách mạng của ông nhưng tôi yêu anh ấy biết bao nhiêu. Chúng tôi có quá nhiều chuyện để làm phía trước, có thai lúc này là “ngoài kế hoạch”, nhưng tôi cương quyết giữ lại tình yêu và lý tưởng của mình. Vậy là tôi chạy trốn Sài Gòn lên thành phố sương mù, tạm trú trong nhà người quen chờ ngày sinh nở, anh có mặt bên cạnh tôi trong khoảng thời gian khó khăn đó, khi cả nước ăn bo bo thì anh lén lút mang gạo trắng từ miền Tây lên cho tôi, vượt qua không biết bao nhiêu trạm kiểm soát trong cái áo giả dạng bộ đội mà anh phải đổi nhiều quần áo đẹp của anh mới có được nó. Tôi sanh sớm hơn 2 tuần nên thằng bé phải nằm lồng kính, tháng 7 mưa dầm, quần áo không khô kịp, tôi không có đủ sữa cho con , anh tất tả đi bán máu mua về mấy hộp sữa bò, khăn áo cho hai mẹ con, nấu cho tôi một nồi súp đầy rau mà ít thịt, giặt dùm tôi mấy cái quần lót dính đầy máu vì thiếu băng vệ sinh. Tôi đã bật khóc trong niềm hạnh phúc vỡ òa. Đối với tôi, nếu có phải hy sinh cuộc đời mình cho người đàn ông đáng yêu này thì tôi luôn sẵn sàng. Và tôi đã sẵn sàng như vậy suốt hơn 40 năm qua, mặc dù anh ấy nằm xuống lâu lắm rồi.
VyDan là kỷ niệm đẹp nhất trong chuyện tình của chúng tôi. Đẹp mà buồn đến xót xa.
Yverdon là một thành phố nhỏ của Thụy Sĩ, nói theo bài hát là đi dăm phút trở về chốn cũ, lúc đầu còn bỡ ngỡ lạ lẫm với những con đường quanh co mà từng viên gạch lót trên quảng trường , những lâu đài nóc nhọn phủ mái ngói rêu xanh nằm bên góc chợ đã có tuổi đời hơn trăm năm trước, xen lẫn giữa những tòa nhà cao tầng hiện đại thì xem ra mấy cái Chateau vẫn còn phảng phất vẻ kiêu sa của một thời quý tộc.
Hệ thống xe lửa ở các nước Châu Âu đều có chung một quy tắc tuyệt đối, đó là sự đúng giờ, tôi thực sự thoải mái khi sử dụng phương tiện công cộng này. Bước xuống sân ga lúc nào cũng 4 giờ 15 chiều, tôi chỉ báo cho Luctine và VyDan biết thời gian để yên tâm là tôi có đến và sẽ tự đi bộ về, nhưng lần nào thì 2 người đó cũng đều có mặt để đón tôi, Luctine đẩy xe lăn và VyDan cười vui biểu lộ ra gương mặt muốn hét lên như bất cứ đứa trẻ sung sướng nào được đón Mẹ đi xa về. Tôi hạnh phúc khi cúi xuống ôm VyDan, xoa cái lưng gầy gò nhô xương của nó mà rưng rưng cảm xúc. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi. Luctine giúp tôi mang cái ba lô nặng trĩu đầy quà của thằng bé để tôi hăm hở đẩy xe cho VyDan, chúng tôi đi bộ về nhà khoảng 2 mile với bao nhiêu câu thăm hỏi dồn dập. (vốn liếng tiếng Anh của tôi chỉ có thể ở mức xã giao và anh bạn trẻ gốc Pháp này đối thoại sinh ngữ phụ khá hơn tôi, nên khi gặp câu khó tôi cười trừ, hoặc nói bâng quơ vậy mà nó cũng hiểu tuốt)
Tôi quen biết Luctine cách đây cũng gần 20 năm, khi hắn còn là sinh viên làm thiện nguyện cho tổ chức Terre des Hommes (The leading Swiss child relief agency), hắn chăm sóc cho VyDan và quen Martin cũng trong công việc này, hai đứa yêu nhau rồi ra trường, hôm đám cưới có cả VyDan tham dự. Năm 2002 hắn đẩy VyDan về Việt Nam thăm Mẹ sau 15 năm xa cách, trong khi ở Thụy Sĩ Martin sắp tới ngày sanh đứa con đầu lòng. Luctine lớn hơn VyDan chắc vài tuổi, điều đáng nói là sự chân tình của hắn dành cho chúng tôi, những con người xa lạ khác màu da, khác ngôn ngữ nhưng có duyên phận gắn bó tình nghĩa với nhau. Lần đầu tiên khi chúng tôi qua Thụy Sĩ ở nhờ nhà đứa cháu họ bên Lausanne, mỗi ngày đi xe lửa đến thăm VyDan, tiền vé đi về của hai vợ chồng hơn 70€, cầm cự mấy tuần chịu không thấu, thì gặp Luctine, hắn nói nhà hắn có dư một phòng, đi bộ đến Chỗ VyDan chừng 5 phút, hắn “welcome , see you next time.”
Lại một lần nữa tôi chịu ơn người dưng nước lã đầy hào hiệp này. Hắn hiện ra trong đời sống của mẹ con tôi giống như ông Bụt, cầu được ước thấy. Tôi đã ở nhà hắn đây là lần thứ ba, gia đình Luctine đúng là kiểu mẫu của người Tây phương, nề nếp nghiêm chỉnh, 3 đứa con đều xinh đẹp ngoan ngoãn, học hành giờ giấc đâu ra đó, không ôm iPhone iPad nấu cháo như kiểu nhà mình, cuối tuần cha mẹ dẫn đi học khiêu vũ, học võ hay đánh banh, đứa nào cũng nói được 2-3 thứ tiếng. Nhà khá giả nhưng ăn uống hết sức đạm bạc (!), buổi trưa cả nhà ăn ở ngoài, buổi tối là về đủ mặt cho bữa dinner, có khi chỉ vài đũa spaghetti hay bánh mì chấm chút xíu nước sốt, lâu lâu có miếng cá salmon khiêm tốn cỡ 2 ngón tay. Lúc đầu tôi không quen ăn quá ít như vậy nên tối ngủ nghe bụng cồn cào. Hỏi ra mới biết họ không thích ăn thịt các loại hay hải sản, và ăn ít như vậy cũng thành quen nên dáng người ai cũng thon thả… Ở bên Mỹ ăn uống thoải mái như hổ,qua đây ăn rón rén như mèo nên ngày nào tôi cũng mua bánh mì phô mai ra công viên ngồi nhai như dân homeless…
Chỗ ở của VyDan cách nhà Luctine chừng 1 miles, đó là khu dân cư nhưng cơ quan thuê hay mua gì đó 2 căn có 4 phòng chung một hành lang riêng biệt để nuôi những đứa trẻ bệnh tật như Vy Dan, có nhân viên chăm sóc 24/7 từ ăn uống thuốc men thay tã tắm rửa, hình như họ chia ca trực, ban ngày có 3-4 người lăng xăng nấu ăn giặt giũ dọn dẹp không ngơi tay nhưng gương mặt họ lúc nào tươi cười vui vẻ, cử chỉ nhẹ nhàng, nói chuyện với tụi nhỏ thân mật như chị em trong gia đình, lạ một điều không đứa nào biết nói nhưng hiểu những lời họ nói và mỗi đứa đều có lối biểu cảm riêng để giao tiếp với họ dễ dàng.
Bốn đứa trẻ đó tôi nghĩ là người của các quốc gia khác chớ không hẳn là dân Thụy Sĩ, nói trẻ vì hình dạng mặt mũi ngây ngô như con nít nhưng đứa nào cũng hơn 35-45 tuổi, chung một khuyết tật như nhau, tay chân khều khào, không đi đứng được, không nói được nhưng nghe hiểu, biết cười và đôi khi la hét vu vơ , ăn phải có người đút và mọi chuyện cá nhân phải có người giúp đỡ tất tần tật như đánh răng tắm rửa thay tã mặc quần áo… Cuộc sống ở đó thân thiện cho các cháu mang cảm giác thoải mái giống như trong gia đình, phòng khách có sofa tivi trang trí vài chậu hoa, cây xanh trong ánh sáng dịu mát, phòng ăn nhà bếp tươm tất, tới giờ ăn họ trải khăn ăn muỗng nĩa như nhà hàng, thức ăn mang lên thơm lừng, có đủ thịt bò thịt heo rau củ nhưng tất cả đều được bỏ vào máy cắt nhỏ hay xay mịn tùy theo cách ăn của từng đứa, thật tình tôi không biết tụi nó cảm nhận món ăn ngon dở ra sao trong cái món sền sệt trộn chung hầm bà lằng này, mỗi đứa ngồi một góc có nhân viên bên cạnh, Daniel và Jessica thì tay chân quờ quạng nhưng vẫn thích tự cầm muỗng ăn, dù thức ăn đổ vương vãi . Có chứng kiến một buổi ăn trưa với bọn trẻ mới thấy cái tâm và sự chịu đựng của người phục vụ, họ nói huyên thuyên điều gì đó khiến mấy đứa nhỏ cười, họ lấy muỗng gõ xuống bàn chọc ghẹo nhau và ăn ngon lành thức ăn trong dĩa , dù trước mặt họ mấy đứa ăn uống đổ tháo ho khạc đàm nhớt lòng thòng vào chiếc khăn quấn trên ngực. Thú thật tôi nuốt không nổi khi ngồi đối diện với Daniel lúc nào cũng ho sù sụ khạc đờm rơi rớt trên cái dĩa của nó. Mới biết họ chấp nhận công việc ở đây ngoài chuyện lương bổng là bình thường nhưng cái tâm họ tịnh hơn , tấm lòng của họ bao dung độ lượng hơn nhiều người khác, họ được giáo dục để biết yêu thương và tử tế với những đứa trẻ bất hạnh. Bà trưởng phòng ở đây đã từng ôm tôi an ủi ” mày đừng lo lắng, bọn tao đã sống với tụi nhỏ lâu rồi, tao coi mấy đứa như con của tao, nên mày tin rằng tụi nó rất hạnh phúc “.
Tôi lại khâm phục những con người vác thánh giá này, không có lời cám ơn nào đủ giá trị để dành cho họ. Tôi thấy mình nợ nần một đất nước xa lạ, nợ nần những con người xa lạ nhưng trái tim của họ thật gần gũi ấm áp biết bao nhiêu, nếu không có vòng tay dang rộng của chính phủ Thụy Sĩ và tổ chức nhân đạo này, chắc gì con trai tôi sống sót được đến hôm nay. Có người hỏi tôi sao không mang nó về bên Mỹ cho tiện chăm sóc mà mẹ con cũng được gần nhau, tôi đã thẳng thắn nói không vì tôi biết nơi nào là quê hương của nó, nơi nào nó sống yên vui mỗi ngày thì đó là thiên đường. Định mệnh đã sắp đặt cho nó sống ở đây và có chết thì cũng ở đây Tôi biết cái cây đã èo uột sẵn mà bứng trồng chỗ khác không chắc gì sống nổi . Trong phòng ăn treo 4 bức ảnh của 4 đứa, năm ngoái tôi qua thì thấy gỡ mất 1 tấm, hỏi thăm mới biết con bé đã về trời, tôi buồn ngẩn ngơ khi nghĩ đến VyDan, nếu lúc nào đó tấm ảnh của nó không còn treo trên tường nữa! Chỉ nghĩ như vậy thôi mà nghe tim mình như nghẹn thở.
Những ngày ngắn ngủi ở bên cạnh con, tôi kể lể cho nó nghe những chuyện này kia về cuộc sống bên Mỹ, về bà con dòng họ ở quê nhà mà hình ảnh và độ thân thiết đã mờ nhạt trong ký ức của thằng bé rời Sài Gòn hơn 30 năm trước .
Thật tình VyDan không có kỷ niệm gắn bó về quê hương Việt Nam với những địa danh xa lạ, thậm chí nó còn không biết là nó cắt rún ở Đà Lạt và chôn nhao ở Sóc Trăng, một điều lạ lùng chưa từng xảy ra với bất cứ đứa trẻ nào, tôi đã làm điều ấy vì ý tưởng nghịch ngợm của một bà mẹ trẻ lúc đó, đem nhao thai ngâm rượu rồi mang bình rượu đó về quê chôn dưới gốc cây trong vườn nhà ngoại, không có mục đích ý đồ gì khác thường, chỉ muốn là làm vậy thôi, sau này có người biết chuyện lại trách “ ngâm rượu hèn gì thằng nhỏ nóng nảy trong người nên còi cọc”.
Tôi làm thinh không phân trần, 7-8 năm trong tù đủ để giết chết tuổi thơ của nó rồi, VyDan còn sống sót tới bây giờ là điều kỳ diệu của Thượng Đế. Nó tuổi Tỵ, tôi hay gọi đùa “ con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú” Nghe nói mỗi mùa hè là cơ quan đưa những đứa như nó được đi chơi khắp các nước Châu Âu. Ơn Trời,sự bất hạnh của nó đã được đền bù .
Ở đây VyDan được dạy và nghe tiếng Pháp, lần gặp lại nó ở Sài Gòn sau bao nhiêu năm xa cách,tôi phải nhờ cô bạn làm phiên dịch giữa tôi và nhân viên đi cùng, rồi nhân viên nhìn nó “ nói “ điều gì đó, họ truyền đạt lại cho cô bạn .Trời ơi hai mẹ con lúng túng mất mấy ngày, nhưng sau đó tôi nói tiếng Việt thẳng với nó và hỏi có hiểu không? Nó le cái lưỡi nghĩa là Yes, và ngậm miệng lại là No, từ đó chúng tôi bắt đầu nói chuyện với nhau cả ngày như chơi trò trắc nghiệm đố vui.
Trong ngôi nhà này VyDan là thằng bé “ thông thái “ nhất so với 3 đứa còn lại, nó biết đọc sách, xem TV, lên mạng email, Facebook với bạn bè.Người ta gắn cho nó một màn hình nhỏ đặt trên tường hay trên xe lăn, với một bàn phím được thiết kế bằng các ký tự đặc biệt và kỳ diệu hơn khi nó sử dụng 2 ngón chân để click chuột. Chỉ một dòng chữ “ Je t’aime maman“ mà nó cặm cụi cả nửa tiếng mới xong. Tôi đã bật khóc khi nhìn thấy sự cố gắng để diễn đạt ngôn ngữ yêu thương của thằng bé tật nguyền. Thỉnh thoảng tôi thấy nó lên Facebook, cũng viết vài chữ thăm hỏi gởi cho mẹ, nhưng tôi không hình dung được sự khó khăn của nó khi lần mò từng chữ bằng 2 ngón chân run rẩy. Tôi nói nickname để VyDan add tên em gái nó vào Facebook, nó hào hứng với điều này, trong cuộc sống lặng lẽ buồn hiu của nó thì tình yêu thương gia đình gắn bó và ấm áp biết bao nhiêu. Cám ơn những thành tựu công nghệ của thế giới ảo nhưng rất thật này, nó kết nối những con người xa xôi gần lại với nhau, mỗi lần tôi thấy hình VyDan trên mạng, tôi yên tâm là thằng bé còn mạnh khỏe bình an.
Có những buổi chiều trời nắng ấm, tôi đẩy VyDan đi vòng vòng ngoài phố, ngồi trước quảng trường ngập hoa cúc mùa thu, uống cà phê và nhìn người qua lại. Nó thích thú lộ ra mặt, tôi thầm cám ơn những ánh mắt thân thiện của mọi người ở đây dành cho nó, ít ra nó không bị mặc cảm vì hình dạng khuyết tật của mình, đó là yếu tố cần thiết để nó tồn tại và thấy đời đáng sống hơn.
Có lúc hai mẹ con ngồi bên nhau lặng im nhìn ra khung cửa sổ lất phất mưa, tôi hát cho nó nghe những bản nhạc quê hương xưa cũ và thằng bé dựa vào vai tôi thiu thiu ngủ như hồi còn nhỏ, tôi nắm bàn tay bàn chân lạnh ngắt cong queo của nó cố vuốt cho thẳng mà lòng cứ ao ước phép lạ xảy ra cho VyDan, nếu không thể vươn vai như Phù Đổng thì cũng gọi được tiếng Mẹ cho hạnh phúc ngập tràn, nhưng bà Tiên ban phép lạ thì chỉ có trong cổ tích thôi con trai à.
Khi mang nó ra khỏi nhà tù Cộng Sản thì thằng bé đã kiệt sức, tay chân co quắp, cột sống vẹo vọ và các cơ bắp đã teo lại không đủ sức nâng đỡ thân hình xương xẩu. Thụy Sĩ là đất nước có ngành y tế tốt nhất thế giới mà cũng không thể cứu chữa được cho thằng bé trong tình trạng muộn màng.
Sự thăm viếng VyDan cũng theo quy định của cơ quan, tôi chỉ đến buổi sáng sau 10 giờ và buổi chiều sau 3 giờ, khoảng thời gian còn lại thì tôi lang thang khám phá những ngõ ngách của thành phố yên tĩnh này, tôi thường chọn mùa thu để qua thăm con, không hẳn vì Châu Âu thơ mộng bởi rừng cây đổi sắc đỏ vàng, nước Mỹ cũng có nhiều thành phố lung linh màu thu rạng rỡ vậy, đi chi xa, nhưng thật tình khoảng tháng 9-10 giá rẻ nên đi thôi, sống bằng lương hưu thì chỉ có vậy, nhưng ai không biết hoàn cảnh thì trầm trồ “ đi du lịch sướng he” Ờ thì tiền bạc gởi bên ngân hàng Thụy Sĩ nên lâu lâu qua coi còn được bi nhiêu, ha ha chảnh bắt ớn!
Yverdon không có nhiều người Việt như thủ đô tị nạn Bolsa California hay Houston Texas hoặc nếu có chắc sống rải rác đâu đó không biết, duy nhất có một tiệm phở mà nghe giọng là biết Bắc Kỳ 75, một gian hàng tạp hóa Asian bán đủ thứ từ cọng rau muống, gói mì Hảo Hảo đến cái nón lá và tượng ông Địa China, tất cả đều nhập trực tiếp từ Việt Nam qua bằng đường hàng không mỗi tuần, dĩ nhiên chủ nhân là người Việt nói tiếng Pháp như gió, tôi quen với một chị bạn cũng từ cửa tiệm này, chị mua rau răm về nấu cháo lòng (!) nhưng rủ tôi về nhà để mời món mắm chưng cá mặn. Biết là bên Mỹ mấy món này không phải hiếm hoi nhưng được ăn bên trời Tây mà nghe tiếng Huế líu ríu thì quả là thú vị. Tôi nhận ra rằng người Việt dù sống tha hương ở chân trời góc biển nào cũng có chung một nỗi nhớ nhà, “ nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương “Quê hương cứ lẩn quẩn trong từng cái chén đôi đũa, từng cọng ngò tép xả, tô mắm chưng dù được đặt trên bàn ăn có nhiều dao nĩa vẫn không thấy huốt cái đặc thù dân dã Việt Nam.
Thụy Sĩ là quốc gia đắt đỏ cũng nhất thế giới nên tô phở 18€ -20€ là chuyện bình thường, tôi thà nhịn thèm để mai mốt về Mỹ ăn “tô xe lửa” ngon lành mà giá có phân nửa .California nơi tôi ở nói về món ăn Việt Nam thì không thiếu thứ gì.
Trời thu, mưa lất phất lạnh, con đường vắng ngập lá vàng cho tôi cảm giác mình đang đếm bước cô đơn dù mỗi ngày vẫn gọi phone ríu rít với chồng đủ thứ chuyện, hình như có điều gì đó buồn buồn trong tôi, mỗi lần gặp thằng bé là gợi lại ký ức đau thương đã qua, tôi vẫn thấy ray rứt như mình có lỗi trong sự bất hạnh của nó.
Tuổi đời càng ngày càng lớn, tôi không biết mình có còn đủ sức để làm một chuyến đi dài qua thăm nó mỗi năm? Thôi thì một ngày được ở bên nhau là hạnh phúc hiện tại của hai mẹ con, câu chuyện buồn đã thuộc về quá khứ xa lắc xa lơ mà tôi cố gắng để quên nhưng sao vẫn thấy chạnh lòng hoài. VyDan là một kỷ niệm khó phai.
Thời gian thăm nó cũng qua, trước buổi chia tay, nó tặng tôi một món quà lưu niệm, nghe nói mua đâu bên Ý trong một chuyến đi chơi nào đó, tôi giả bộ háo hức tháo gói giấy ra cho thằng bé vui, một con bướm bằng sứ sơn men xanh đã bị gãy một góc cánh, có lẽ không được gói kỹ khi vận chuyển, nhìn gương mặt thất vọng của VyDan thấy thương quá, tôi vội trấn an “không sao, Mẹ sẽ lấy keo dán nó lại dễ dàng mà, con bướm thật đẹp Mẹ cám ơn VyDan đã tặng “ tôi hôn lên vầng trán nhăn nhúm của nó nghe lòng dâng lên nỗi xúc động nghẹn ngào.
Buổi sáng đầy sương, tôi lên tàu về lại Paris để chuẩn bị bay về Mỹ, quê hương thân thiết của tôi cũng như Thụy Sĩ là chốn quê nhà của VyDan nếu một mai nó nằm xuống nơi này.
Tôi nói với nó là trời mưa lạnh đừng ra sân ga, nhưng thật lòng tôi sợ cảnh tiễn đưa bịn rịn, tôi sợ nhìn ánh mắt đỏ hoe của nó sẽ ám ảnh tôi trên suốt đoan đường dài. Thương quá con dế mèn còi cọc của tôi.
Thành phố cuối tuần vẫn còn đang ngái ngủ, những hàng cây trút lá ngập lối đi, cái ba lô nhẹ bỗng trên lưng mà sao tôi cứ canh cánh nỗi buồn nặng trĩu. “Au Revoir mon fils,” Tôi tập viết câu này gởi trong tin nhắn trên Facebook của nó lúc nửa đêm . Tạm biệt con yêu.

Ngọc Ánh

Ba của tôi

Khi xưa, gia đình tôi sống trên một con tàu nhỏ, rày đây mai đó. Vì muốn cho tôi được biết chữ, ba tôi phải gởi tôi cho ngoại để đi học. Lâu lắm ba tôi mới về thăm tôi một lần và tôi cũng không biết là bao giờ… Mỗi chiều, tôi hay ra bến tàu ngồi đợi con tàu của ba tôi trở về cho đến khi mặt trời lặn…rồi tôi lặng lẽ về nhà với những giọt nước mắt còn nóng hổi trên má của mình. Tôi rất nhớ ba của tôi. Bây giờ ba tôi đã ra đi vĩnh viễn và không còn trở về thăm tôi nữa rồi!

IMG_3407

Ba tôi mới qua Mỹ (1980-1983)

Con hay nắm tay ba                                                             
khi con còn tuổi nhỏ
ba dắt con đến trường
con nhớ suốt tuổi thơ.

Con sẽ măi măi sống trong hạnh phúc bằng tình thương yêu của ba đã để lại cho con.

Rồi con tàu xa bến
ba vội vã ra đi

đàn em con đang đợi
ba vất vả cả đời.

“Thời gian ôi vời vợi
thương nhớ ba nào nguôi
chiều chiều ra bến đợi
con tàu có ba tôi.

Mặt trời đã lặn rồi
lại một ngày nữa thôi
giọt nước mắt bồi hồi
nóng hổi trên má tôi.”

Ba ơi con vẫn đợi
ba về để khoe khoang
tháng rồi con học giỏi
được thầy giáo khen ngoan.

Tuổi thơ có lệ tràn
có niềm nhớ mênh man
có bóng ba huy hoàng
đón con chiều thênh thang.

          Thủy Trang                                                                      

                                                                                

                               

 

Chuyện của ẻm

                                                                                  Ngọc Ánh

anhDân miền Tây có nhiều tiếng đệm rất dễ như mình ên, ẻm(em), thẩy (thầy) cổ (cô ấy), thẳng (thằng ấy)… .một cách luyến lái trong câu nghe chơn chất đặc sệt địa phương.
Ẻm cũng là dân miền Tây, nhưng sau nầy lên Sài Gòn, rồi ra Trung sống lang thang lâu quá nên cái giọng của ẻm cứng đơ giống như đất sét nhiễm phèn, không còn ‘chớt’ngọt lùi đúng hiệu dân Nam Bộ nữa. Hồi đi học ẻm nhớ ông thầy gọi học chò bằng chỏ, ẻm cứ thấm ý cười hoài, cũng như mọi ẻm khác trong lớp trong trường, ẻm cũng hồn nhiên tung tăng với bạn bè đánh đôi đánh đọ ở tuổi mới lớn, học hành không xuất sắc nhưng ẻm chịu khó chăm chỉ, cái gì không biết thì hỏi tới bến, thấy điều gì không bình thường trong lớp là ẻm hăng hái đưa tay ý kiến ý cò, nên có chuyện nhớ đời là năm lớp 7 học Việt văn Thầy Tâm, ông qui định viết chánh tả, sai một lỗi trừ 4 điểm, nhỏ bạn ngồi kế bên trật 5 lỗi, bị ăn 2 con ốc vịt oan mạng, mắt nhỏ đỏ hoe… Ẻm xót bạn bèn đứng bật dậy phản đối.’không được đâuThầy, em thấy trừ vậy là quá đáng… ’ ổng cười cười… ‘em hổng chịu vậy hả? tui chấn em con zero về cái tội binh bậy’, nhìn thấy ổng viết vô sổ mà ẻm tức ứa máu, ẻm lại tiếp tục đứng lên cải lý và mỗi lần như thế ẻm lại bị ăn ốc vịt về tội ‘gây rối’, nước mắt ẻm lưng tròng, cả lớp bắt đầu lao xao việc vô lý nầy trong khi ổng cứ cười cười như trêu chọc lũ học trò nhỏ ương ngạnh… Đến cuối giờ thì ổng cũng nán lại bôi hết mấy chục con zero đỏ chói sau khi lấy cả lít nước mắt của những tên khóc nhè (ai biểu!), chuyện chỉ có vậy mà mấy đứa vẫn còn nhớ tới già! Sau nầy có dịp gặp ổng, nhắc lại vụ án ăn hột vịt, ổng còn cười ‘ vậy hả? chắc là thấy mấy đứa mau nước mắt quá nên tui chọc chơi mà’
Nhưng cái vụ đó thì xưa rồi, sau nầy ẻm học hành coi bộ cũng kha khá, nhứt là môn Việt Văn, trong lớp ẻm hay so cựa với nhỏ Hương trong mỗi lần làm bài, nhóm có 4 đứa( tự xưng là Tứ bà la sát) chơi thân hồi nào tới giờ nên việc học hành cũng vì thế mà kèm nhau cùng tiến bộ, cuối năm trường mở cuộc thi viết bài cho bích báo, ẻm được hạng nhứt với tùy bút ‘Cảm nghĩ Xuân 16’ . Ẻm phổng mũi ôm quà thưởng là cuốn Album to đùng (bây giờ mấy chục năm rồi mà ẻm còn giữ kỷ), mấy đứa xúm lại hỏi ‘sao mày viết được vậy?’, ẻm cười mím chi không nói ra bí kíp, có gì đâu, gần Tết ẻm đi đâu đó lang thang gần bãi rác, thấy chim én bay lượn lao xao trên đầu, ẻm liền về nhà viết một mạch cảm nghĩ tuổi trăng gầm của ẻm, BGK chắc là buồn ngủ vì phải chọn lựa quá nhiều bài nên chọn ẻm hay sao(ai biết!), có điều đó là khởi đầu cho ước mơ để trở thành văn sởi của ẻm (ước mơ thì không có tốn tiền nên tội gì mà không mơ ước phải không?) Ẻm tập làm thơ viết bài gởi mấy tờ báo học trò trên Sài Gòn, lâu lâu tờ Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc có đăng tên ẻm trong mục trả lời thư ‘ đã nhận được bài, cám ơn bạn’.
Rồi thôi! khiến ẻm đợi dài cả cổ… May mà ẻm lấy bút hiệu chứ mấy đứa kia biết văn chương của ẻm bị ném sọt rác ở tòa soạn là cười ẻm thúi đầu, mà có gì mặc cảm chớ, miễn có tên trên báo là tốt rồi, nghĩ vậy ẻm cứ kiên nhẫn gởi dài dài, biết đâu nhờ thế mà ẻm trao chuốt được tay nghề! Nhưng có một người tin tay nghề của ẻm là Thầy giám thị, Thầy dạy thêm Việt văn ở trường Pothi cho người Khmer, công việc Thầy bận rộn nên thỉnh thoảng Thầy giao cho ẻm chấm bài, đọc mấy câu văn lơ lớ rất thiệt thà ngây ngô của các chò làm ẻm cười bể bụng, thí dụ như bài luận văn tả cây dừa ‘ cao 30 thước, dùng làm gỗ cất nhà,làm gáo múc nước, lá dừa bay lắc lư trong gió’… Tả cây cầu, gợi ý cây cầu là chứng nhân và dòng đời như nước chảy với bao biến động đổi thay, vậy mà một chò đã viết như sau ‘ em là một cây cầu, hàng ngày kẻ qua người lại trên mình em, nhưng đêm kia có một thằng cao cao ốm ốm trắng trắng đến giật mìn làm em bị gảy đôi… Chời đất!văn chương hết hồn, ẻm lấy viết đỏ khoanh tròn ‘cái thằng cao cao’… và hỏi ‘ai vậy bòn ơi?’ …
Lên lớp 10, ẻm tập tành yêu như mấy thằng bạn ẻm tập tành hút thuốc, tập tành đứng dưới gốc cây đợi ‘áo tiểu thư’ đi học về để làm cái đuôi câm như hến (cái đầu mới biết nói chứ cái đuôi thì ngọng là phải rồi). Nết na thì không dịu dàng đằm thắm, ăn nói oang oang, đi đứng lại hấp tấp chỉ muốn cột vạt áo lên chạy cho lẹ, cười hai răng cửa chìa ra như răng thỏ, lại to như bộ ván ngựa, vậy mà ẻm cũng có một mối tình học trò vắt vai như mấy con nhỏ tiểu thư trong trường mới lạ chớ, thẳng học khác lớp, nhưng nhờ mần văn nghệ báo chí chung trường nên quen, thẳng đẹp chai, có bàn tay dài như họa sĩ, nét vẽ sắc xảo ấn tượng nên nghề của thẳng là vẽ bích báo, vẽ trong mấy tờ đặc san Xuân,vẽ theo năn nỉ của mấy đứa bạn ‘mỗi năm đến hè lòng man mác buồn’, (hổng buồn sao được nếu tờ báo lớp mình không có điểm nội dung mà còn rớt luôn phần hình thức, vì trang trí xấu hoắc) . Ngoài ra thẳng cũng biết mần thơ, viết văn (giống ẻm). Mối tình của ẻm với thẳng cũng không có gì ầm ỉ, tánh ít nói nên thẳng không biết tán tỉnh theo lối cải lương, cũng không có thơ tình dấu trong túi quần, rình rình đưa như mấy thằng bạn của thẳng, chỉ sau mỗi lần tan học thẳng về nhà ăn cơm xong là rủ thêm vài tên bạn chí cốt đến nhà ẻm chơi, ngồi dựa cột lắng nghe mấy đứa nói nầy nói nọ, rồi cười theo. Sân vườn nhà ẻm đầy kiến, có lần thấy kiến chui vào mái tóc bồng bềnh của thẳng mà ẻm không biết làm sao để phủi, (sợ má la!) nên cứ nhìn hoài ái ngại để cho thẳng chịu hết xiết phải lật đật đứng dậy đi về…
Cuộc tình học trò trôi qua êm ả, không có love you, love me loạn cào cào như tụi nhỏ bây giờ, chỉ có hẹn hò trên đường Giao Hạ, để thẳng làm thơ ‘tôi đứng chờ em ở ngã ba/ Trường thi ngõ huyện vắng người qua’, hai đứa đi bộ lang thang nói chuyện trời trăng mây gió rồi thôi. Đùng một cái, chiến sự nổ ra, lôi kéo lớp trẻ vào cuộc, mùa hè năm 73, thẳng vừa đúng tuổi tổng động viên ‘xếp bút nghiên theo việc đao binh’, ngày đưa tiễn thẳng và Chung ra bến xe Cần thơ, thẳng mới thu hết can đảm nắm tay ẻm giả từ, ẻm về nhà hát bài ‘Ngậm Ngùi’ suốt buổi…
Thời gian trong quân trường, ẻm vẫn gởi thơ thăm thẳng đều đều, nhưng không nhớ là mình đã viết gì, vậy mà có người nhớ rất rõ và còn nhắc tới bây giờ, thỉnh thoảng trong hơi men cuối tuần ở đâu đó trên xứ người, Chung lại gọi phone khề khà kể chuyện quá khứ ‘thằng Quan hay đưa thơ cho tui đọc, tui thuộc nằm lòng và ao ước có người nào đó gởi thơ cho tui giống như vậy, rời trường đi lính sớm quá, tui chưa kịp có bồ… ’ Ẻm khựng lại bỡ ngỡ ‘Vậy sao?’.
Rồi 30/04/75, ẻm hốt hoảng chạy lên phi trường TSN tìm thẳng, hai đứa gặp nhau mừng mừng tủi tủi trong làn sóng người hổn loạn chen chúc di tản, thẳng cởi áo lính mặc lại bộ đồ học trò, hai đứa ra bến xe miền Tây, không chọn con đường nào khác, phải về nhà thôi! Chiếc xe tải cuối ngày chở đầy người ì ạch trên quốc lộ 1A, lần đầu tiên ẻm cảm nhận sự ‘hòa bình’ khi không nghe tiếng súng, tiếng mìn nổ trong đêm… Bàn tay hai đứa nắm chặt lại như nương tựa vỗ về … . Ẻm nghĩ đến ngày mai yên ấm trong thị xã nhỏ xíu đầy ắp kỷ niệm của bạn bè thời mới lớn.
Mối tình của ẻm ngon như ly chè sâm bổ lượng bên cầu Quay, nếu uống liền thì thấy đã khát, nhưng để lâu, nước đá tan, nó cũng trở nên nhạt phèo… Ẻm và thẳng cũng vậy, hai đứa hai dòng đời bận rộn, quên mất nhau, quên mất kỷ niệm… Mấy chục năm trôi qua, có dịp gặp lại bạn cũ, nhắc tới chuyện ngày xưa, bạn bè nói thẳng bây giờ khác lắm, thẳng có một cái tên mới, một vị trí đứng cũng mới, thẳng phương phi tốt tướng hơn ngày xưa, ít đàn đúm với bạn bè cà phê cà pháo như hồi đó, ẻm lại ngỡ ngàng buột miệng ‘Vậy sao!’
Trong lần nào đó đi xem triển lãm tranh ở thành phố, nhìn bức họa vẽ người con gái Khmer rất sinh động, nét vẽ thiệt quen, thiệt gần gủi nhưng tác giả ký cái tên lạ hoắc … Ẻm chợt ngẩn ngơ nhận ra rằng thẳng không còn là thẳng ngày xưa nữa rồi!
Có điều bí mật nầy của ẻm mà không ai biết, đó là cái răng thỏ ngày xưa theo thời gian rơi rụng đâu mất, ẻm phải ‘phục chế’ lại khi biểu nha sĩ kê thêm hơi khểnh một chút cho nụ cười giống ẻm hồi đó, nhưng không chắc gì thẳng nhận ra ẻm đâu, xưa rồi nhỏ ơi! Ẻm nhớ câu thơ đọc đâu đó ‘một trăm lá thư gởi đi không bằng một lá thư không gởi/ một vạn nụ cười không phải nụ cười xưa’. Ừa há, ước gì cổ máy thời gian là có thiệt để ẻm và bạn bè kéo kim đồng hồ quay ngược lại thuở hồn nhiên, nhưng mà biết đâu chừng nó không ‘phước bất trùng lai’, kim đồng hồ sau một màn quay mòng sẽ dừng lại đúng cái thời ‘họa vô đơn chí’ chắc cả bọn có nước khóc tiếng Miên…Thôi thì chấp nhận hiện tại, và biết rằng bạn bè còn có nhau là mừng rồi!
Chuyện của ẻm là chuyện dài nhiều tập, từ lúc ẻm rời bỏ trường xưa phố cũ lên Sài Gòn, rồi ẻm lấy chồng, có con, rồi hằm bà lằng thứ xảy ra trong cuộc đời ba chìm bảy lênh đênh khiến ẻm hổng giống ai trong đám bạn bè thưở trước, ngày ẻm trở về xác xơ, cái răng thỏ mất tiêu, và mái tóc dài bị cắt cũn cỡn, nhưng được cái ẻm cũng lì đòn, can đảm để chấp nhận sự thiệt, ẻm đứng thẳng lên sau mỗi lần vấp ngã đau điếng. Bạn bè thương ẻm số phần lận đận nhưng ẻm là người tri thiên mệnh, ẻm biết mình biết ta nên tỉnh queo đợi ngày thới lai… Mà thiệt lạ, hồi đi học ẻm không tin bói toán vớ vẩn, nhưng có lần theo mấy nhỏ lên Cô Bảy ở Cầu Đen chuyên bói lá (ra vườn bẻ bất kỳ lá cây nào đem vô, cổ chỉ nhìn thôi là biết được tương lai quá khứ, tài thiệt ) ẻm bị Cổ phán một câu xanh dờn ‘ lúc trẻ thì tình duyên lận đận, danh phận long đong, nhưng về già thì an nhàn hưởng phước… ’ Bây giờ ngẫm nghĩ thấy đúng bon! Ẻm đương sống hạnh phúc êm ấm bên chồng con, lâu lâu có dịp ngồi tám với bạn bè thời đi học vui hết biết, ẻm hài lòng cái mà mình đương có, ẻm nối vòng tay thân thiết với mọi người chung quanh, nhưng thỉnh thoảng ẻm cũng mắc vài cái tật làm mích lòng hàng xóm như tánh thẳng thừng ‘có sao nói vậy người ơi’ khiến đụng người nầy , dính người kia, ẻm cũng cố gắng khắc phục khuyết điểm, hy vọng là chút tâm tình nầy không đụng hàng, chuyện của ẻm xưa rồi bây giờ mới kể ra, có thể ẻm cũng lẩm cẩm như bao tuổi già khác, cái đáng quên thì nhớ, điều đáng nhớ lại quên, không sao, miễn bạn bè đọc thấy vui vui thì cũng đở vài nếp nhăn trên trán.
Phải hôn mấy chò?

Chuyện tình của Huế

IMG_5563

Chùa Thiên Mụ-Huế, ảnh: Lựu Nguyễn

Huế của những ngày
niên thiếu đẹp như mơ
Huế của những mùa học
đi về đường hoa phượng nở
Huế của tà áo bay
những con đường thành nội
Huế của những mối tình
đẹp nhất hành tinh
những chàng trai vỡ lòng
yêu “ngậm ngãi tìm trầm”
bao nhiêu lời tỏ tình
ngàn năm nằm yên trong tập vở

thơ học trò
anh không dám đưa nàng đọc
lời ngô nghê
nên chỉ để riêng mình nghe
lén nhìn em thì thầm
cô bé xinh ghê
ước gì mình
cũng làm thơ hay như… rứa

lối em đi áo bay ngà hoa bướm
anh vẫn theo sau những dấu chân chim
nón nghiêng nghiêng trời trong mắt si tình
tình chung thủy dòng sông Hương lai láng

không ước hẹn
nhưng trong lòng vẫn hứa
“nhỏ của ta ơi, mãi mãi là thơ!”
tình yêu không nói cứ dấu chi mô
mỗi trang thơ là lời tỏ tình bất tuyệt

nhỏ mhu mì
và chàng thì khờ khạo
nên hai đường
mãi mãi song song
nên chàng và nàng
mãi cứ hoài mong
chỉ mơ mộng
và văn chương tiểu thuyết

tình Huế rứa
nên vô cùng da diết
vô cùng đắm say
tha thiết nên thơ
và mối tình
muôn thuở vẫn nguyên sơ
nét đẹp thiên tiên
một đời lấp lánh

 Trầm khanh

 

Gặp lại nhau

IMG_3185

Bức tranh thêu. Nguồn: Xo Việt Nam- Đà Lạt

            Tình cờ mình gặp nhau
             tinh khôi như thuở nào
        khi rừng thu thay áo
           lá vàng cũng xôn xao.

                                                                   Tình yêu ôi! ngọt ngào
                                                                   ngày buồn chợt qua mau
                                                                   giọt nước mắt nghẹn ngào
                                                                   ngập ngừng trong mắt trao

                                                                   Mình lặng lẽ nhìn nhau
                                                                   bao ngôn từ phong kín
                                                                   trái tim vờ làm thinh
                                                                   chan chứa vạn ý tình

                                                                   Mắt em một trời xinh
                                                                   mắt anh sâu biển tình
                                                                   bàn tay nào vội nắm
                                                                   tựa nghĩa tình keo sơn

                                                                           Thủy Trang

Vẫn khởi hành

IMG_3487

Ảnh: Trần Cao Lĩnh, nguồn: Phố cũ, thơ trầm khanh

                                                                   

                                          Vẫn khởi hành

                                                                        Tặng báo Thế Giới Mới

                                                      Khởi đi từ vận nước niềm đau
                                                      hành lộ văn chương nhớ buổi đầu 
                                                      bút mực vung lên tràn kiếm khí
                                                      văn thơ khẳng khái dậy công phu
                                                      kiếm cung một thuở phù dân nạn
                                                      nghiên bút ngàn đời hưng quốc câu
                                                      sự nghiệp nghìn năm ai tính trước
                                                      non xanh lịch sử để mai sau

     Trầm Khanh        

Mùa Halloween xưa

halloween

Cách nay, có lẻ hơn ba mươi năm rồi, đó là ngày lễ Halloween đầu tiên mà tôi cùng Kim Hoàn được tham gia tranh giải với các bạn cùng sở trong buổi lễ hóa trang do sở làm của chúng tôi tổ chức. Hoàn hóa trang làm một cô ma trẻ, mặc áo choàng trắng, tóc dài, mặt đầy vết máu với hàm răng nhô ra nhọn hoắc như chờ để hút máu người, trông thật ghê rợn. Còn tôi hóa trang làm một chàng trai người Tàu với sự trợ giúp vẽ râu và chân mày của Xuân (phu quân của Kim Hoàn). Bên cạnh đó, trong hảng tôi có một người bạn trai, anh tên Tài. Tài mặc áo dài phụ nữ Việt Nam, mang guốc cao gót rất duyên dáng và cùng tôi sánh bước trong màn trình diễn “cặp đôi hoàn hảo” thật ngoạn mục. Chủ đề của cuộc thi  là “kinh dị” dĩ nhiên tôi không được giải, còn Kim Hoàn và Roger, một người bạn cùng sở hóa trang làm “ác quỷ” đoạt giải nhất đồng hạng.

“Chàng trai người Tàu” được “papa”   rất thương yêu. “Papa” là một người Mỹ gốc Hoa tên Cheng và được chúng tôi quen miệng gọi ông là Mr. Cheng. Mr. Cheng là một người rất hiền lành và tốt bụng. Ông là một chuyên viên điện tử “Technician” trong hảng mà chúng tôi đang làm việc và sắp đến tuổi về hưu.  Ông thường hay giúp đỡ tôi trong công việc làm khi tôi mới bước chân vào nghề từ một cô giáo gỏ đầu trẻ trở thành một Technician điện tử và gọi tôi là con gái. Cảm động trước tấm lòng cao quí của ông dành cho tôi, tôi đã thay đổi cách xưng hô và gọi ông là “papa” từ đó.

Ngày tôi hóa trang làm một chàng trai người Tàu “papa” rất vui, tôi cũng vậy.

Rồi “papa” về hưu. Tôi vẫn thường liên lạc với ông. Năm nào ông cũng gởi thiệp chúc mừng sinh nhật cho tôi với lời lẻ rất thân thương và vẫn gọi tôi là “my daughter”. Nét chữ của “papa”càng lúc càng nghiêng nghiêng trong những năm sau đó và tắt ngắm không biết tự lúc nào.

Cứ mỗi mùa Halloween trở về tôi lại nhớ papa rất nhiều, cả anh Tài cùng tôi sánh bước khi anh xúng xính trong chiếc áo dài phụ nữ thật dễ thương và Roger, người bạn hóa trang làm “ác quỷ” năm xưa cũng lặng lẻ ra đi…xa tôi đời đời.

                          Thủy Trang

IMG_7748

Ảnh: nhà Kim Hoàn 2019