THẦY TRẦN BÍCH LAN CỦA TÔI

DSCF0333

Anh Võ văn Nhơn (đi đầu) và các bạn học Văn Khoa năm 2007.

Năm 1972, sau khi thi đậu Tú tài Một Ban Toán, do ở Hóc Môn không có trường tư thục nào mở lớp 12 Ban Toán, nên tôi phải xuống Sài Gòn học ở trường Văn học. Trường nằm ở ngã ba Phan Thanh Giản – Vườn Chuối (bây giờ là ngã ba Điện Biên Phủ – Vườn Chuối, hiện là cơ quan thường trú tại TP. Hồ Chí Minh của báo Giáo dục và Thời đại), đặc biệt chỉ dạy lớp 12, do cô Trịnh Thúy Nga, vợ của nhà thơ Nguyên Sa, làm hiệu trưởng. Trường rất nổi tiếng do có nhiều giáo sư tên tuổi và tỉ lệ học sinh đậu tú tài rất cao. Trước cổng trường có một cái bảng lớn ghi tên một cách trang trọng những học sinh đậu tú tài năm trước. Vào hè năm 1973, tên tôi cũng đã được ghi trên cái bảng đó. Lúc đó hàng ngày tôi phải thức dậy từ lúc 4g sáng, ngủ gà ngủ gật trên chuyến xe đò Hóc Môn – Sài Gòn để đi học, trưa lại đón xe về.

Gần 50 năm đã trôi qua, hình ảnh các giáo sư ở trường Văn học hầu hết đã phai mờ trong trí nhớ mòn mỏi của tôi, riêng hình ảnh thầy Trần Bích Lan thì hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Một phần do tên tuổi của thầy, phần lớn là do phong cách giảng dạy rất ấn tượng của thầy. Thầy dạy môn Đạo đức học cho lớp chúng tôi và đã xuất hiện với hình ảnh rất bất ngờ trong buổi lên lớp đầu tiên. Trong khi các giáo sư khác ăn mặc rất chỉnh tề, áo bỏ trong quần nghiêm túc thì thầy với dáng vẻ mập mạp lại áo bỏ ngoài quần, chân mang dép, đầu đội mũ phớt đi vào lớp. Nhìn dáng vẻ xuề xòa của thầy, có bạn bảo tưởng là ông xích lô nào đó đi nhầm vào lớp.
Nhưng ngay trong buổi học đầu tiên, thầy đã cuốn hút chúng tôi với phong cách giảng dạy rành mạch, hóm hỉnh. Thỉnh thoảng thầy lại vẻ những hình minh họa vui vui, nhờ đó những bài giảng về triết học khô khan trở nên rất dễ hiểu. Thầy cũng hay nói đùa về cái tên rất phụ nữ của thầy, bảo là đã gặp rất nhiều rắc rối vì cái tên đó.
Triết, con trai thầy, cũng học cùng khóa với chúng tôi. Lớp chúng tôi là Ban Toán, hầu hết là con trai, quậy phá rất dữ, có lúc còn lấy đồ vật chọi vào những người Đại Hàn ở chung cư bên hông trường, đơn giản vì nghĩ đó là ngoại bang, là những người đem chiến tranh đến đất nước của chúng tôi.
Từ chỗ mến mộ phong cách giảng dạy của thầy, tôi yêu cả thơ văn của thầy với bút danh Nguyên Sa. Tuổi mới lớn nên thời đó tôi rất yêu các câu thơ trong Tuổi mười ba như: “Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám, Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba. Tôi phải van lơn, ngoan nhé đừng ngờ”, hoặc “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường. Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương, Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…”. Rồi những câu thơ trong bài Áo lụa Hà Đông hầu như đã thành cổ điển: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”.
Cô hiệu trưởng Trịnh Thúy Nga xinh đẹp của chúng tôi, khác với phong cách xuề xòa của thầy, luôn chỉn chu, tươi tắn trong những bộ áo dài rất đẹp, vì vậy mà chúng tôi cứ tò mò khi thấy thầy viết “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm, Như con mèo ngái ngủ trên tay anh. Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình, Để anh giận sao chả là nước biển”.
Sau khi đậu Tú tài Hai Ban Toán vào năm 1973, tôi ghi danh học Ban Toán Lý Hóa ở trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Nhưng tôi cũng yêu triết học, bắt đầu từ việc yêu quý thầy Trần Bích Lan và thầy Trần Thái Đỉnh, giáo sư Pháp văn lớp 11 của tôi ở trường Thánh Liêm, Hóc Môn và là giáo sư Ban Triết học Tây phương của Đại học Văn Khoa Sài Gòn, nên tôi quyết định ghi danh học Ban Triết học Tây Phương ở trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, trở thành một anh sinh viên Ban Triết, nơi những sinh viên thường khá lập dị, bên cạnh những thầy tu Phật giáo, những chủng sinh Công giáo nghiêm nghị. Từ đó tôi bắt đầu đọc nhiều sách của thầy Trần Bích Lan hơn, như Vài ngày làm việc ở Chung Sự Vụ, Quan điểm văn nghệ và triết học, Một bông hồng cho văn nghệ, Descartes nhìn từ Phương Đông, Một mình một ngựa. Cả chuyện thầy bút chiến với Phạm Công Thiện tôi cũng chăm chú theo dõi.
Sau khi vào đại học, tôi còn gặp thầy một vài lần, như lần thầy đến nói chuyện về thơ ở Đại học Văn Khoa, tôi còn nhớ hôm đó thầy đã bình bài Ngậm ngùi của Huy Cận với nhiều phát hiện rất thú vị.
Sau ngày 30.4.1975, do Đại học Văn Khoa lúc đó chưa có Khoa Triết nên tôi chuyển sang học Khoa Văn. Từ giã triết học với những Kant, Nietzche, Lão Tử, Trang Tử, tôi và các bạn bè Ban Triết đi học văn cùng với sinh viên Nhân văn, Tâm lý, Báo chí… của các đại học khác. Ngẫm lại cuộc đời mình là do lịch sử đưa đẩy, nhưng trong đó có một phần là do thầy Trần Bích Lan yêu quý của tôi.

                                                           Võ Văn Nhơn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: