quê hương và niềm nhớ

Màu nắng xưa phai trong mắt người

    Trầm Khanh

DSCF0324còn nhớ dáng em xưa gầy
dòng mắt xanh như mây trời
khúc hát vô tư ngày đó
tháng ngày ngủ nhoài trên vai

đôi mắt chiều: khung cửa sổ
mở ra địa đàng mê say
bước chân ngập ngừng ngoan đạo
lòng bỗng ưu phiền ngất ngây

đời biết bao giờ có yên vui
lòng đó biết bao giờ êm nguôi
rồi chết đi bao ngày xanh tươi
lá úa rơi trên từng ngày phai

màu mắt san hô biển nhạt nhòa
khúc chiều phố cũ đàn xanh xao
phượng hồng xưa nở trời tâm niệm
nắng nhạt màu rêu bảo tố qua

trầm lắng phiêu du ngàn kiếp chim
long lanh niềm dấu yêu ưu phiền
cơn mưa hồng một đời sa ngã
cuồng đắm trong hồn nghe lãng quên

 

Nỗi nhớ tháng 5

 Ngọc Ánh

Tôi rời Sóc Trăng lên Sài gòn 42 năm trước cũng vào tháng 5, rồi bỏ Sài gòn mà đi 10 năm biền biệt cũng vào tháng 5… .Mùa mưa và chùm phượng đỏ sũng nước như trái tim tôi trĩu nặng nổi nhớ không nguôi một thời làm học trò hoa bướm bình yên. Người ta tốn nhiều giấy mực khi nhắc lại kỷ niệm đầu đời đầy nhạc và thơ nầy, tôi cũng tự hào khi mình đã có một bình minh rạng rỡ như vậy, ký ức êm đềm đến độ nằm mơ cũng thấy mình lang thang trong đó.
Hoàng Diệu trường xưa luôn sáng rực khi nỗi nhớ đong đầy, nhớ từng gương mặt của bè bạn ngày nào,  nhớ tiếng giảng bài sang sảng của Thầy, tà áo dài thướt tha của Cô, trò nghịch ngợm của nhứt quỷ nhì ma khi cột áo dài phóng qua hàng rào cái rột, nhớ từng góc lớp thân quen, từng cây còng phủ bóng sân trường giờ ra chơi, cột cờ, hồ sen, khu căn tin lụp xụp… Nhớ bậc tam cấp cả bọn thường ngồi lê la trong giờ chơi, để ngó qua vai ai vào khung cửa sổ có đôi mắt như biết cười đương dõi theo .
Mười năm xa xứ, tôi vẫn bồn chồn nôn nao trong mỗi chuyến đi về, SócTrăng ngày càng khác lạ, con đường giữa như ngắn hơn khi cuốc bộ qua cầu Quay, dòng sông như chật hẹp hơn khi nhìn dề lục bình trôi quanh quẩn lúc con nước lớn ròng, và cũng có những tên đường lạ hoắc… .

IMG_0708Có lần tôi trở về quê, ngập ngừng vào thăm trường cũ, cái cổng trường ngày xưa mất tiêu, khung bê tông vuông vức không còn chỗ cho cây còng xanh lá, tôi đứng ngẩn ngơ nhìn lũ nhỏ đương giởn đùa ríu rít, áo trắng bay rợp con đường Mạc Đỉnh Chi trong buổi tan trường, tự dưng thấy như có mình trong đám đông rộn ràng đó, cũng có những đôi mắt như biết cười mà sao không giống bạn tôi!

Buổi sáng đi lại con đường Giao Hạ bên hông dinh Tỉnh trưởng cũ, phượng đỏ, bằng lăng tím, nắng vàng… Chơn mình như bị vấp vào gốc phượng già nua để nhớ tiếng guốc khua vang buổi tựu trường năm nẳm.
‘Ngũ thập niên tiền ngô thập nhị’ Ừ, năm mươi năm trước ta mới 12 tuổi, hồn nhiên chim sáo nên đâu biết thơ Nguyên Sa để yêu hoa cúc, lá sân trường… Và bây giờ khi tuổi già ngất ngưởng, tóc pha màu thời gian, ngồi lại bên nhau mới thấy như mình huốt một nụ cười, nhớ câu thơ của ai đó ‘Một trăm lá thư gửi đi không bằng một lá thư không gửi, một vạn nụ cười không phải nụ cười xưa’ Chắc vậy người ơi!

Tháng năm bên xứ người, hiếm hoi phượng đỏ, chỉ thấy màu phượng tím thênh thang trên những nẻo đường xa lạ, lòng lại bâng khuâng ở hai đầu nổi nhớ,quê hương sao mà vời vợi.
Bạn bè tôi trăm nẻo như dòng sông phân nhánh, có đứa len lỏi ra được biển rộng hay ở lại quanh co giữa những thác ghềnh nghiệt ngã, thậm chí chỉ là ‘con kênh ta đào’ mương cạn trong góc khuất tối tăm, dầu thành công hay thất bại cũng ráng vươn lên trong nhịp đời hối hả, đó là thế hệ của chúng tôi, cái thời được giáo dục tử tế trong ngôi trường tỉnh nhỏ nầy , không thành danh thì cũng thành nhân,và chúng tôi đều không quên cội nguồn bao dung đầy ấm áp thân tình, để làm nơi chốn trở về sau bao thăng trầm mệt mỏi.
Tháng Năm vào Hạ, thèm nghe tiếng ve kêu để nhớ một thời!

 

Mùa thu và người lính chiến

        Thủy Trang

IMG_1191

Cám ơn em mùa thu 
từng ngày ru anh ngủ.

Trên ngọn đồi hoang vu
Nơi chốn xa mịt mù.

Cám ơn em mùa thu
buông rơi từng chiếc lá.
Đấp mộ người lính xa
người lính chiến chưa già.

Đã bao lần em hả!
thu lặng lẻ đi qua.
âm thầm anh nhớ quá
tình đồng đội thiết tha.

Anh nhớ bà mẹ già
năm canh dài xót xa.
Đêm thu buồn mẹ thức
tiếng kinh cầu ngân nga.

Anh nhớ người vợ nhà
trông chồng nơi chốn xa.
Tựa vào ánh trăng ngà
soi héo úa mặt hoa.

Anh nằm đây rất lạ
yêu đời tựa bài ca.
Hởi mùa thu vàng lá
vì sao phải cách xa?

 

Một thoáng quê hương

Vài nét về tác giả

Tôi có người bạn rất thân, rất hiền và dễ thương. Cô có cái tên cũng rất dễ thương, Thu Cúc. Chúng tôi quen nhau từ thuở học Tiểu học và thân nhau cho đến bây giờ. Ba má tôi buôn bán phương xa trên chiếc ghe nhỏ rày đây mai đó, nên tôi  ở trọ nhà Cúc để đi học. Vì thế tình bạn chúng tôi càng gắn bó hơn. Còn anh Trầm Khanh lại là người bạn đời của Thu Cúc. Từ đó tôi được quen biết anh. Anh Trầm Khanh làm thơ rất hay, anh cũng đã ấn bản nhiều tập thơ rất có giá trị.  Xin mời các bạn thưởng thức bài thơ đầu tiên của anh “Một thoáng quê hương ” với  “quê hương và niềm nhớ”. Xin cám ơn anh, Trầm Khanh. (Thủy Trang)                         

IMG_0682

tháng tư mặt trời lên nhật thực
em về tóc xõa bến trầm luân
từng dòng sông mưa về cuối phố
biển tràn nước mắt mặn phù sa

ngày mưa qua rừng em đứng đợi
người tìm về thăm chốn ăn năn
kỷ niệm xa đi chiều trốn nắng
sầu lê thê lăng lắc ngàn năm

mây trời quê cuồng phong bão tố
rừng không còn xanh biển không bình yên
bao nỗi nhớ gọi thầm qua biển
chiêu hồn tàn thủy mộ lênh đênh

mấy thập niên quê nhà vẫn thế
chiều khói mây biển trắng xây thành
biết làm sao sau khi về cát bụi
rồi nỗi sầu như mộ đá ngàn năm

mùa tháng tư trời còn lạnh gió
vẫn mơ về chốn cũ ngày xưa
lần lửa mãi ngày qua tháng lại
bước chân trầm ngày tháng quắc queo

                Trầm Khanh

 

Núm ruột nghĩa tình

Vài nét về tác giả

 Cô Ngọc Ánh với cây bút thần kỳ, bằng lời văn bình dị nhưng rất thật,  cô đã biến hóa bài viết của mình một cách linh động để đi vào lòng người thật sâu lắng và cảm thông.  Xin cám ơn cô đã chia sẻ bài viết “Núm ruột nghĩa tình” với “quê hương và niềm nhớ”.  Xin chúc cô luôn vui vẽ và hạnh phúc, cô nhé. (Thủy Trang)

IMG_0900
Mỗi nhà mỗi cảnh, thời trẻ tôi có tới 2 Ba, 2 Má, 2 bà Ngoại…Chuyện là cô Sáu em của ba tôi sanh được anh con trai thì bệnh sao đó không sanh được nữa, trong khi Má tôi mần một hơi 2 đứa con gái và đang mang bầu tôi. Thời chiến tranh giặc giã ở quê ai cũng nghèo, nhưng cô Sáu ham con quá bèn dặn Ba tôi “ Nếu kỳ này chị Năm đẻ con gái nữa, anh cho tui nuôi nhe” Tưởng ai xa lạ chớ em ruột của mình, cho cổ có mất đi đâu, chắc Ba nghĩ vậy nên gật đầu liền, Má tôi vì nể chồng nên hổng dám cải, chớ bà cũng xót ruột xót gan, khi tôi vừa sanh ra còn đỏ hỏn là Cô Sáu lật đật ôm về làm khai sanh ,lấy họ Dượng tính đặt tên là Trần Ngọc Nuôi , nghe đâu thời đó có cô đào cải lương cũng tên là Ngọc Nuôi tài sắc vẹn toàn, chắc ông bà cũng muốn tôi giống như vậy nhưng nghĩ bụng phân vân “ Rủi sau này nó biết nó là con nuôi thì sao? không đựợc đâu,phải dấu biệt vụ này để lớn lên nó không mặc cảm mà mình dạy dỗ nó cũng dễ” và họ đặt tôi cái tên khác nghe cũng sáng láng và quyết chí dọn nhà lên chợ Sóc Trăng ở để bà con dưới quê khỏi xầm xì  này nọ , họ hàng ai mà nói động tới con nuôi con ruột là Má tôi chửi tắt bếp!

Vậy đó, tôi đương nhiên là con gái cưng của Cô dượng  Sáu, hàng xóm biết Ba Má có hai đứa con thôi, anh Tùng đi lính quanh năm, lâu lâu mới về phép , Ba tôi có cái quán hớt tóc ở đầu hẻm, gọi là quán vì nó được che tạm bợ vừa đủ kê hai cái ghế đẩu và tấm kiếng đặt dựa vách, cạnh bên treo tòn teng sợi dây nịch bằng da cũ dùng để liếc dao cạo, một cái khăn choàng ngã màu cháo lòng nhưng luôn được giặt sạch sẽ, cái kệ đóng sơ sài để dao kéo tông đơ… Đồ nghề của ba chỉ có vậy ! Nghe nói cả đời Ba ôm  mỗi cái nghề hớt tóc này thôi..”Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Nếu câu này ứng vô ba tôi là sai bét, hớt tóc mấy chục năm vẫn nghèo!
Má tôi thì giỏi giang hơn, bà bán buôn đủ thứ, nhớ hồi tôi 9-10 tuổi gì đó, Má tôi dạy thêu, dạy móc..bà vô sạp vải mua vải khúc đầu thừa đuôi thẹo về, miếng lớn thì cắt áo đầm trẻ con, miếng nhỏ thì cắt áo túi, khúc xanh nối với khúc đỏ may đồ con nít , tôi thêu vài cái bông cái hoa vô cho nổi hơn, ngày Tết đổ ra chợ bán đâu phải quần áo không mà còn kèm cả chục hủ củ kiệu, cả thúng bánh ít bánh tét..Nói chung Má làm quần quật nhưng trông thảnh thơi vì “ quen tay quen việc” Má không cho tôi đụng vô bếp núc vì chê tôi vụng về, đụng đâu hư đó..Chỉ lo học hành tử tế là được rồi, Mọi việc có Má lo, thậm chí đi học về Má dọn cơm sẳn đậy lồng bàn, tôi chỉ ăn và rửa mấy cái chén! Con cưng là con hư, sau này ra đời đi làm ăn cơm tập thể, lấy chồng cũng chưa nấu được bửa cơm tươm tất, may mà không làm dâu làm con ai, chứ Má chồng còn sống chắc tôi ra sau hè..
Tôi sống những năm tháng bình yên trong gia đình của Cô dượng Sáu mà không mảy may suy nghĩ về thân phận mình, Ba Má đã hết lòng chăm lo cho tôi, mái tóc của tôi cũng một tay ông cắt nếu nó dài quá eo, cắt ngang thôi chứ không đựợc “ so le chiếc lá” như kiểu thời trang của mấy đứa bạn mà tôi rất thích, Ba tôi không biết cắt hay sao nhưng ông chống chế “ cắt vậy hư tóc hết con à”, tôi vùng vằng rồi cũng thôi, hồi xưa đâu có mái che trán dồ như bây giờ, chỉ rẽ đường ngôi ở giữa là xong, mà lạ hồi nhỏ tôi không để ý mình có cái trán nhô ra bướng bỉnh, cái trán mà bà Nội tôi nói đậu được mấy chiếc máy bay và hai cái răng cửa làm đủ bộ ván ngựa ( nguyên văn )
Quần áo tôi cũng một tay Má may, đồ bà ba, đồ bộ, áo đầm kiểu này kiểu kia Má tôi chế ra đủ thứ, Má nói đồ chợ may không chắc đường kim mối chỉ, tôi nghĩ Má sợ tốn tiền thì đúng hơn, còn nhỏ mặc sao cũng được, so với con hàng xóm thì trông tôi tươm tất lắm.
Khi tôi đậu đệ thất trường Hoàng Diệu, Má tôi lại tự mua vải ka tê về nhà may áo dài, lớp 6-7 thì suông đuột thùng thình cũng không sao nhưng khi có eo có co mà Má vẫn dành may thì tôi phản đối tới cùng, năn nỉ riết Má mới chịu cho ra tiệm may, Má sợ tôi đua đòi! nhưng Ba tôi thì khác, tôi ỉ ôi thế nào Ba cũng cho tiền may cái quần ống loe mode híppy thời đó, mỗi lần mặc phải lén đừng cho Má thấy.
Nhà nghèo nhưng yên ấm, hạnh phúc, tôi lớn lên từng ngày nhờ gánh cơm tấm bánh mì bì của Má dạo quanh xóm mỗi sáng khi tôi đến trường, và cái tông đơ của Ba suốt những năm tháng “húi cua” các ông các cậu qua mấy thế hệ trong vùng, có những buổi đắc khách Ba đứng rả chân và những khi ế hàng, Má cũng lội rả giò để bán cho hết phần quang gánh.
Má tôi tuổi Mùi Ba tôi tuổi Sửu kỵ khắc “ tứ hành xung” nhưng hai người chưa bao giờ cải nhau trầm trọng, nếu có chắc là vì tôi nhiều hơn, trời mưa đi học về ướt dầm tôi bị sốt, ba tôi ra vào hết sờ trán con rồi lại ra bàn thờ đốt nhang lâm râm khấn vái “ con cháu nhỏ dại xin ơn trên tha mạng nếu nó có lỡ lầm gì’ Má tôi thì nhất định ép uống mấy viên “ ốp ta li đông” trị cảm, thế là cải nhau vì cách điều trị. Lên bàn ăn tôi thò đũa đâu Ba cũng cản “ từ từ con, bệnh mới bớt ăn coi chừng trúng “ Má thì biểu “ ăn cho nhiều vô mới có sức “ đói ăn rau, đau uống thuốc có gì mà cử”
Vậy là “ tứ hành xung “ xảy ra.!
Chuyện Ba Má tôi viết cả đời không hết, sống từ nhỏ đến lớn kể ra biết bao nhiêu là vui buồn thăng ít mà trầm nhiều trong cái gia đình nhỏ đó, tôi cũng không nhớ chính xác là lúc nào thì tôi biết được “ lý lịch” con nuôi của mình, bà con thì cũng hay nhỏ to “ mày là con Năm Lạc mà “ nhưng đâu có nghe cậu mợ Năm xác nhận gì đâu, Mỗi mùa hè tôi vẫn lên Sàigòn ở nhà cậu và chơi với mấy đứa nhỏ,
Anh Tùng tôi cưới vợ và bà chị dâu gọi tôi là “ cô Út” ngọt xớt , lúc đầu chị em còn vui vẻ với nhau vì suýt soát vài ba tuổi, chỉ siêng làm bánh “ thục linh” cho tôi ăn, nhưng vài tháng sau bổng chị trở bệnh bất thường, do bị chứng hoảng loạn tâm lý nào đó mà bác sĩ cũng bó tay. Ba Má tôi lại khổ sở khi thấy con dâu cưng của mình thỉnh thoảng tóc tai rũ rượi, cười khóc vô hồn, Má đi coi “ Thầy Năm nước lạnh” trong hẻm thì thầy phán là bị ma ám, thế là nhà tôi ngày đêm ngập mùi nhang khói, Ba Má tôi hì hục lạy xin “ Cửu huyền thất tổ” phù hộ độ trì cho con dâu khỏi bệnh, lo cơm dưng nước rót để dâu khỏi động móng tay.Ông bà lo cưng dâu mà quên …cưng tôi, nghĩ lại hồi nhỏ sao lòng ganh tị “ cà nanh” lớn quá, trong lần cải cọ nào đó với bà chị dâu, tôi buột miệng “ bây giờ ba má thương chị hơn thương tui, bởi vì tui là con nuôi mà” Má nghe giận lắm, bà kéo ra góc bếp chửi một trận te tua “ sao ngu vậy, nói ra chi cho chị dâu mày không nể, con nuôi hay con ruột thì cũng là con nhà này, sở dĩ tao với ba mày dấu không cho mày biết gốc tích là để nuôi dạy mày đàng hoàng , mày không mặc cảm này kia…”
Ba thì buồn hiu phân trần “ coi như con mượn bụng Mợ Năm mà chun ra làm con của ba, lúc nào Ba cũng thương con hết”.Thiệt tình tôi cũng thấy mình ngu hết sức.
Sau 75, Cậu Năm từ Sàigòn xuống Sóc trăng trong tư thế của bên thắng cuộc, ông hỏi coi thằng Tùng có ra trình diện đi học tập chưa? trong nhà có chứa súng ống hay văn hóa phẩm đồi trụy thì phải khai nộp cho cách mạng! Cái điều tôi sửng sờ nhất là ông đòi bắt con “ Nó phải về với tôi, vì bây giờ gia đình Cô là sĩ quan ngụy, nó không thể tiến thân được, nó phải đổi trở lại họ Lê trong gia đình cách mạng …” Má tôi cố nói giọng cứng cỏi “ con anh thì anh bắt , ăn thua tấm lòng của nó thôi” còn Ba Sáu tôi thì nước mắt ròng ròng khi nắm tay tôi “ cậu Năm nói phải đó con, còn học hành tương lai nữa, con ráng vô Đại học nhe con, Ba Má lúc nào cũng thương con hết” Mà thiệt vậy mười mươi tôi cũng là con cầu con khấn của nhà này, bao nhiêu năm nay tôi đã sống bình yên hạnh phúc trong tình thương yêu đùm bọc của Ba Má Sáu. thì lẽ nào tôi quay lưng để trở về gia đình ruột của mình sao đành!
 Trong đời có biết bao cuộc chia ly, nhưng có lẽ đó là lần chia ly sầu thảm nhất mà mỗi lần nghĩ tới tôi cứ rưng rưng vì thương Ba Má, như có giọt nước mắt của Ba rơi xuống cánh tay tôi và đọng lại ở đó suốt đời!
Những năm tháng trong tù, Ba Má lặn lội lên thăm tôi tận trong rừng núi Tánh Linh ngoài Trung được 2 lần, quà chỉ là muối xả, muối tiêu, cải khô cải muối mà sao ngọt tình ngọt nghĩa quá chừng, lần đi thăm cuối cùng Ba than mệt tuổi già sức yếu, chắc không lên con được nữa, ráng xách hai trái dừa xiêm gọt vỏ khô khốc cho tôi, cây dừa trong sân chờ con về hoài mà không thấy.. Lần thăm nuôi sau nữa Má đi một mình, Ba tôi đã chết gần giáp năm,tôi khóc sưng mắt khi nghe tin này…” Con là con của ba, ba đã mượn bụng người khác sinh ra con” Trời ơi! tôi chưa có một ngày đền đáp công ơn dưỡng dục trời biển này. Rồi Má tôi cũng mất sau đó không lâu, hai đám tang đều hiu quạnh trong cảnh nghèo khổ , không có con cái bên cạnh, phải nhờ gã khờ nào đó trong xóm  bưng dùm lư hương , nghe mà thảm thương trong dạ, Ba Má không thể chờ đợi ngày con mãn tù hay sao Ba Má ơi!
Rồi tôi cũng trở về quê sau mười mấy năm lưu lạc , thăm mộ Ba một nơi, mộ Má một nẻo, cỏ dại mút đầu nhang khói đìu hiu, tôi khấn vái để đưa Ba về nằm cạnh Má cho vẹn nghĩa tình, sống đồng tịch đồng sàng. chết thì đồng quan đồng quách,  “ tứ hành xung” còn có ý là ông bà sống với nhau không đặng hào con , hào của nhưng yêu thương chăm sóc cho nhau đến lúc bạc đầu.
Tôi nghĩ bây giờ chắc Ba Má thanh thản trên cõi Trời để phù hộ cho anh em chúng tôi hôm nay  được sống bình an hạnh phúc  ở xứ người.
Nếu quả thật có luân hồi thì con nợ Ba Má một kiếp tái sinh để đền ơn dưỡng dục.
 

Ngọc Ánh 

Nhà văn hóa Đông Hồ

Vài nét về tác giả

Anh Võ Văn Nhơn là người bạn học cũ  của tôi. Chúng tôi cùng theo học ban Triết ở Trường Đại học Văn khoa, Saigòn vào khoảng năm 1974. Hơn bốn mươi năm trôi qua, tình bạn học của chúng tôi vẫn không thay đổi. Chỉ một điều đổi thay là ngày xưa anh Nhơn lên giảng đường Đại học, anh mặc áo sinh viên. Còn hôm nay anh lên giảng đường Đại học, anh  lại mặc áo của một giảng sư.

Anh là một nhà giáo cần mẫn, đạo đức  và rất được học trò của mình quý mến . Ngoài việc giảng dạy anh còn là một nhà nghiên cứu văn học khả kính và nghiêm túc. Xin cám ơn anh đã chia sẻ bài viết  của mình “Nhà văn hóa Đông Hồ” với gia đình nhỏ “quê hương và niềm nhớ”.  (Thủy Trang)

                                                     Võ Văn Nhơn

IMG_0918

ĐÔNG HỒ

Nhà thơ Đông Hồ tên khai sinh là Lâm Tấn Phác, sinh ngày 16 tháng 2 năm Bính Ngọ, nhằm ngày 10.03.1906 tại làng Mỹ Đức, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang). Mồ côi cha mẹ sớm, Đông Hồ được người bác là  Hữu Lân Lâm Tấn Đức, một nhà Nho nổi tiếng văn hay chữ tốt dạy dỗ. Do tổ tiên mấy đời đều ở ven Đông Hồ Ấn Nguyệt, một thắng cảnh trong Hà Tiên thập cảnh, nên khi bắt đầu sáng tác, ông đã lấy bút hiệu là Đông Hồ. Ông còn có các bút hiệu khác như Thủy Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am… và còn có tự là Trác Chi.    Vùng đất Phương Thành – Hà Tiên là vùng đất có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, vốn là quê hương của tao đàn Chiêu Anh Các. Chính truyền thống quê hương và truyền thống gia đình đã hun đúc nên một nhà thơ, nhà giáo Đông Hồ.

  Từ năm 1923, Đông Hồ đã nổi tiếng với nhiều bài khảo cứu, tùy bút, ký sự đăng trên báo Nam Phong như Thăm đảo Phú Quốc, Linh Phượng ký, Phú Đông Hồ, Hà Tiên Mạc thị sử … Với các tác phẩm đó, có thể nói Đông Hồ đã trở thành sử gia của họ Mạc và là linh hồn của đất Hà Tiên. Bài ký Thăm đảo Phú Quốc với những trang viết về cảnh hành hình nhà yêu nước Nguyễn Trung Trực đã gây nhiều xúc động trong lòng độc giả như nhà thơ Quách Tấn đã từng cho biết. Bên cạnh Giọt lệ thu của Tương Phố, tác phẩm Linh Phượng ký của ông cũng đã làm thổn thức một thế hệ thanh niên thời đó. Hà Tiên Mạc thị sử, theo như nhận định của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, lại là một công trình khảo cứu rất công phu về họ Mạc, dòng họ đã có công khai phá vùng đất Hà Tiên.

Sau Nam Phong, ông còn viết cho Đông Pháp thời báo, Phụ nữ Tân văn, Việt Dân, Tự Do, Mai  ở trong Nam và Văn Học tạp chí, Khai trí Tiến Đức tập san, Tri Tân ở tận đất Bắc.

            Nhưng Đông Hồ được biết trước hết với tư cách là một nhà thơ. Năm 1932, ông đã cho ra mắt tập Thơ Đông Hồ gồm đủ các thể từ ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, thập vịnh, hát nói, câu đối, phú, tản văn.

            Rồi Phong trào Thơ mới phát triển sôi nổi trước hết ở Nam Bộ lúc đó đã có sức hấp dẫn đối với ông. Từ chất lãng mạn trong khuôn khổ cổ điển ở tập Thơ Đông Hồ, đến tập Cô gái xuân xuất bản năm 1935, Đông Hồ đã chuyển theo dòng thơ mới lãng mạn. Với Cô gái xuân, Hoài Thanh đã cho rằng: “Đông Hồ là người thứ nhất đã đưa vào thi ca Việt Nam cái vị bát ngát của tình yêu dưới trăng thanh, trong tiếng sóng”(1).

            Song phong thái Nho gia vẫn không mất đi hoàn toàn nơi Đông Hồ. Hoài Thanh đã rất tinh tế khi viết: “ Ai cũng thấy Thơ Đông Hồ và Cô gái xuân khác nhau xa. Tuy vậy, nếu trong Thơ Đông Hồ ta đã thấy khơi nguồn thơ Cô gái xuân thì trong Cô gái xuân vẫn còn lai láng cái buồn những vần thơ cũ”(2). Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng: “Đông Hồ đã chịu ảnh hưởng về đường tả thực, nhưng ông còn giữ được cái giọng thanh tao của lối thơ cũ. Đó cũng là một điều đặc sắc vậy”(3).

Bên cạnh thơ ca, Đông Hồ còn có một khát vọng không lúc nào nguôi. Đó là khát vọng vun đắp, xây dựng tương lai cho “tiếng Việt huy hoàng”. Một khát vọng đã đeo đuổi ông từ lúc tuổi mới mười tám, đôi mươi cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Điều này cũng đã được Hoài Thanh ghi nhận trong Thi nhân Việt Nam: “Hoàn cầu dễ ít có thứ tiếng được âu yếm, nâng niu như tiếng Nam… Nhưng yêu quốc văn mà đến như Đông Hồ kể cũng ít”(4) .Từ lúc làm giáo viên dạy lớp sơ đẳng ở Hà Tiên, Đông Hồ đã bất mãn với việc học sinh Việt Nam không được học tiếng Việt mà phải học tiếng Pháp, phải tụng những câu như : “Tổ tiên chúng ta là người Gaulois”. Nên tuy phải dạy theo chương trình, ông vẫn chú trọng đến tiếng Việt và khuyến khích học sinh trau dồi quốc văn.

dong ho

Đông Hồ

Chưa bằng lòng với những cố gắng đó của mình, nên vào năm 1926, tức lúc mới tròn hai mươi tuổi, chàng trai trẻ Trác Chi đã mở thêm Trí Đức học xá bên bờ Đông Hồ dạy toàn chữ quốc ngữ. Thành lập Trí Đức học xá, Đông Hồ muốn thực hiện lời của Tagore khi mở nhà Santiniketan để dạy cho thanh niên Ấn Độ cái đạo giải phóng tinh thần, sống gần thiên nhiên: “Có học tiếng mẹ đẻ, thì chúng ta mới vỡ trí khôn ra được”. Giữa lúc tiếng Việt đang bị rẻ rúng, coi khinh như lúc đó, hành động của ông giáo trẻ Lâm Tấn Phác quả là rất dũng cảm. Nhiều bài làm văn của học trò Trí Đức học xá đã được Đông Hồ biên tập và gửi đăng trên báo Nam Phong, trong đó có bài của người học trò xuất sắc nhất là nữ sĩ Mộng Tuyết, sau này trở thành người bạn đời của ông.

Bên cạnh việc dạy tại chỗ, Trí Đức học xá còn mở cả hệ hàm thụ để học sinh ở xa có thể luyện tập được tiếng Việt.  Trên thư từ liên lạc của hệ hàm thụ, có tiêu đề như sau:

Ríu rít đàn chim kêu

Cha truyền con nối theo.

Huống là tiếng mẹ đẻ

Ta có lẽ không yêu.

Với sự nỗ lực vượt bậc của trưởng giáo Lâm Tấn Phác và các học trò, Trí Đức học xá đã gây được một tiếng vang đáng kể trong nước. Nhưng do bị thực dân Pháp dòm ngó, nghi kỵ, nên năm 1934 Trí Đức học xá rồi cũng phải đóng cửa sau tám năm tồn tại. Riêng lớp hàm thụ vẫn còn được tiếp tục, ai thích văn chương thì cứ gửi thư cho ông và ông rất nhiệt tình sửa chữa giúp.

Sự nghiệp dạy học dang dở, năm 1935 Đông Hồ bỏ lên Sài Gòn làm báo Sống, một tờ báo đầu tiên ở  Nam Bộ in đúng chính tả, nhất là hỏi, ngã; là một tiến bộ trong nghề làm báo ở Nam Bộ lúc đó theo như nhận định của nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Trong báo có mục Trong vườn Trí Đức nhằm tiếp tục công việc bình văn và giới thiệu các bài văn hay của Trí Đức học xá. Nhà văn Bùi Hiển quê tận Nghệ Tỉnh, tác giả của Nằm vạ, cũng đã có lần gửi bài đến nhờ thầy Đông Hồ coi giúp. Cộng tác với báo có các nhà văn yêu nước, tiến bộ như nhà thơ Tản Đà, nhà phê bình Thiếu Sơn, nhà thơ Huỳnh Văn Nghệ …

Báo Sống được ông chăm sóc công phu như thế nhưng cũng chỉ ra được 30 số rồi phải đóng cửa. Từ giã Sài Gòn, ông lại về Hà Tiên ẩn cư gần 10 năm. Cách mạng tháng Tám thành công, ông cũng tham gia kháng chiến chống Pháp một thời gian, sau vì lý do sức khỏe phải lên Sài Gòn sinh sống. Dù làm báo hay xuất bản sách, ông đều để hết tấm lòng đối với tiếng mẹ, với văn học Việt Nam. Báo Sống hay tập san Nhân loại đều được ông chăm lo phần chính tả, in ấn rất kỹ. Với bút hiệu Đồ Mọt Sách, ông đã đưa ra nhiều nhận xét lý thú về tiếng Việt trên mục Chữ và Nghĩa của tập san Nhân loại. Và không chỉ bỏ công giới thiệu nhóm văn học Chiêu Anh Các của Hà Tiên quê cũ, hay lần tìm dấu vết Bạch Mai thi xã của Sài Gòn – Gia định xưa, ông còn nhẫn nại, mày mò thử viết lại từng câu thơ đã bị rơi rụng bởi thời gian của Đặng Đức Siêu, của Ông Ích Khiêm…, cái công việc mà ông gọi một cách thi vị là “vá chiếc áo nàng thơ”.

Tình yêu tiếng mẹ còn được ông thể hiện qua nghệ thuật thư pháp tiếng Việt. Có người cho Đông Hồ chính là người đã khai sinh ra nghệ thuật này. Mỗi lần Tết đến, ông đều tự tay làm những chiếc thiệp xinh xắn với những bài thơ xuân do chính tay ông viết. Những bức trướng tiếng Việt, những tấm thiệp Tết với  một nét chữ hoặc rất chân phương, hoặc rất bay bướm để viếng người mất, để tặng bạn bè bây giờ đã trở thành những kỹ niệm vô giá của người thân, của học trò ông.

Và cũng vì lòng yêu tiếng mẹ đẻ không lúc nào nguôi đó, nên ba mươi năm sau ngày Trí Đức học xá đóng cửa (tức vào năm 1964),  Đông Hồ đã nhận lời phụ trách giảng dạy phần Văn học miền Nam cho Đại học Văn Khoa Sài Gòn, mặc dù tuổi đã gần sáu mươi và sức khỏe cũng đã kém. Việc trở lại dạy học chính là để nối lại cái “tình duyên lỡ làng” với Trí Đức học xá ba mươi năm trước, để đề cao “giọng Hàn Thuyên”, để kêu gọi “hồn Đại Việt” như ông đã thiết tha ngày nào:

                        Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên                    

                        Nền móng văn chương cổ điển,

                        Đặt đây viên đá đầu tiên

                       Xây dựng tương lai còn hẹn.

Đó là mong mỏi của ông khi nhận lời giảng dạy một chuyên đề còn quá mới mẻ như thế. Với phong thái chân tình của một Nho gia, ông rất được sinh viên yêu quý. Những năm dạy học ở Văn Khoa là những năm ông hạnh phúc hơn cả, vì ông đã tìm thấy trong việc dạy học niềm vui mà Mạnh Tử bảo là còn quí hơn cái vui làm vua trong thiên hạ:                      

                      Đây thế hệ anh hoa tuấn tú

                      Đêm ngày đang vui thú sách đèn

                      Say sưa nghĩa lý thánh hiền

                     Đông Tây kim cổ triền miên mộng vàng

                     Đang đợi những huy hoàng cao cả

                     Đang bắt tay luyện đá vá trời

                     Một trời mực đậm son tươi

                     Một trời Đại học, một trời Văn khoa

Trong hồi ức của các sinh viên Văn Khoa thời đó, lớp học do ông phụ trách là lớp học có không khí đậm đà, đặc biệt hơn cả bởi lòng yêu tiếng nói dân tộc đến cháy bỏng nơi ông, bởi tư cách nghiêm cẩn của một nhà Nho bên cạnh  phong độ của một thi sĩ tài hoa và niềm thông cảm, đồng điệu sâu sắc giữa thầy và trò.

Nhưng rồi vào ngày 25.03.1969 (tức ngày mồng 8 tháng 2 năm Kỷ Dậu), trên một giảng đường ở lầu hai lộng gió của Đại học Văn Khoa Sài Gòn (bây giờ thuộc dãy A trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn của chúng ta), Đông Hồ đã bất ngờ ngã xuống trong vòng tay của những sinh viên rất mực yêu mến mình lúc  đang ngâm dở dang bài thơ Trưng nữ vương của nữ sĩ Ngân Giang. Bài thơ nói về nỗi cơ đơn, lạnh lẽo của người nữ anh hùng dân tộc sau chiến thắng, khi chạnh nhớ tới chồng. Một tứ thơ rất độc đáo, rất nữ tính mà Đông Hồ đã tinh tế chỉ ra. Được các sinh viên đưa vào bệnh viện, ông mất ngay ngày hôm đó, hưởng thọ 63 tuổi.

Ngày nay, mỗi lần đi ngang qua chỗ Đông Hồ đã ngã xuống, tôi lại nghĩ đến việc đặt nơi đó một tấm biển nhỏ ghi mấy dòng này chẳng hạn: “Nơi đây, thầy Đông Hồ, một người yêu tiếng Việt, đã ngã xuống”. Điều đó chắc sẽ góp phần làm cho sinh viên yêu thêm ngôi trường của mình và yêu thêm tiếng mẹ thân thương của chúng ta hơn.

            Sự nghiệp của Đông Hồ là sự nghiệp của một người yêu tha thiết tiếng mẹ. Dù là dạy học hay làm báo, dù làm thơ hay là khảo cứu, ông đều có ý thức là mình đang  xây dựng tương lai cho “tiếng Việt huy hoàng”. Vượt trên vị trí một nhà thơ, nhà giáo, nhà báo bình thường, Đông Hồ thật sự là một nhà văn hóa của dân tộc.

CHÚ THÍCH

(1) Hoài Thanh, Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học và Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP. Hồ Chí Minh, 1988, tr. 296.

(2) Sđd, tr. 296.

(3) Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại, tập I, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr. 149.

(4) Sđd, tr. 294.

 

Biển và đợi chờ

                            Thủy Trang

bien

Em như từng cơn sóng nhỏ,
vỗ nhẹ vào bờ vào triền đá chơ vơ.
Anh có nghe lời biển dại khờ,
như em nói muôn đời em vẫn đợi.

Anh ở đó phương trời xa diệu vợi,
em bên này ngút mắt vẫn ngàn khơi.
Tìm về nhau xa quá một gốc trời,
mà biển vẫn lặng câm lời tình tự.

Em muốn nói ôi, muôn vàn tâm sự,
mà sóng xô sao cứ mãi vô tình.
Để thời gian tóc trắng buổi bình minh,
và cô độc tuổi đời chiều xế bóng.

Trong lặng thinh như có lời vang vọng,
tự trái tim của những kẻ chờ mong.
Biển vẫn sâu thăm thẳm tựa đôi lòng,
cho thệ ước bỗng thở dài não nuột.

 

Bếp nhà Hà Tiên

Alyssa Hồ,  Nguyễn Lệ Hoa và Lựu Nguyễn.

Một người đồng hương Hà Tiên, một người bạn cùng sở làm và là một người bạn thân thiết của tôi Alyssa Hồ, em gái của tôi Nguyễn Lệ Hoa và người bạn mà tôi hết sức quý mến, chị Lựu Nguyễn đã chia sẻ với chúng ta những món ăn rất ngon qua “Bếp nhà Hà Tiên”. Cám ơn rất nhiều nha Alyssa Hồ, em Lệ Hoa và chị Lựu Nguyễn. (Thủy Trang)

IMG_0867

Bánh khọt (Nguyễn Lệ Hoa)

20180427_151604

Bánh xèo (Alyssa Hồ)

20180425_153548

Bánh mì, vịt nấu tiêu xanh (Alyssa Hồ)

3311

Cháo đậu đỏ, củ cải muối, cá cơm kho đường (Alyssa Hồ)

IMG_7895

Cơm hến (Lựu Nguyễn)

IMG_7059

Bánh canh chả tôm cua (Lựu Nguyễn)

img_0514

Vịt tiềm (Lựu Nguyễn)

Resized_20190124_1504181

Bánh bèo Hà Tiên (Alyssa Hồ)

IMG_7029

Bún riêu (Lựu Nguyễn)

Resized_20190203_124432

Thịt kho măng khô với bánh tét nhưng đậu xanh (Alyssa Hồ)

default

IMG_6818 (2)

Gỏi tôm thịt (Lựu Nguyễn)

20180505_165944

Hột vịt lộn, rau râm (Alyssa Hồ)

IMG_6428

Hủ tíu xào rau củ (Lựu Nguyễn)

20180515_150750 (1)

Bún, Cà ri gà (Alyssa Hồ)

IMG_2203

Bò nấu rượu vang (Lựu Nguyễn)

IMG_4502

Bánh bông lan nhân mặn (Lựu Nguyễn)

IMG_6775

Xôi gấc (Lựu Nguyễn)

img_4268

Mít, khóm và cherry (Lựu Nguyễn)

img_4501

Chè đậu trắng (Lựu Nguyễn)

3328

Chè bắp (Alyssa Hồ)

 

Những bức ảnh đẹp quá!

Tình cờ nói chuyện với Thành Lâm, người bạn đồng hương Hà Tiên về cảnh đẹp của quê hương Việt Nam, tôi thật hết sức ngạc nhiên khi được biết anh là một nhiếp ảnh gia tài ba. 

Bốn bức ảnh  Two Generations”,“Lanie Nguyen”, “Chinese Garden” và Little Girl Praying” của anh đã đoạt được giải thưởng cao quý có tính cách Quốc Tế trong lần triển lãm thứ 16 PSSNY International Photographic Exhibition 2014.

Xin mời các bạn hãy cùng tôi thưởng thức những tác phẩm tuyệt vời này của Thành Lâm. Xin chân thành cảm ơn bạn đã chia sẻ tài năng của mình cùng với chúng tôi, cho cuộc sống  ngày thêm tươi đẹp hơn.

    Nhíếp ảnh gia: Thành Lâm

 

i_2_0140

Medals PSA Gold Lam, Thanh, AFIAP,PPSA “Two Generations” Riverside, CA USA

i_2_0141

“Lanie Nguyen”

i_2_0142

“Chinese Garden”

i_2_0143

“Little Girl praying”

            PSSNY Projected Images Salon Chairman John Ou Award

Lam, Thanh

AFIAP,PPSA

“Two Generations” (PSA Gold) USA
“Lanie Nguyen” (HM)
“Chinese Garden”
“Little Girl Praying” (HM)

Tình đã phai

         Thủy Trang

IMG_0735Có một lần tuyệt vọng,
có một lần khổ đau.
Mới hay tim mình khóc,
mới hay tình ngổn ngang.

Rồi những giọt nắng vàng,
chìm dần vào đáy mắt.
Và hoàng hôn ngập tràn,
 cho thương nhớ mênh man.

Rồi nghẹn ngào thổn thức,
ru hồn bằng đắng cay.
Trong ngục tù ký ức,
chỉ một mình mình hay.

Có cơn gió nào say,
thổi tung làn tóc rối.
Nhìn sợi tóc bay bay,
mới hay tình đã phai.